NGƯỜI VIỆT NAM XÂY CHÙA TRÊN XỨ PHẬT THÍCH CA
Ai đã từng đến thăm hai ngôi chùa Việt nam ở Ấn Độ và Nê pan đều có ấn tượng khó quên vì được sống trong những khoảnh khắc rất Việt Nam tại xứ người. Chùa nằm ở thánh địa Phật giáo Bodh Gaya, do Thày Thượng tọa Thích Huyền Diệu trụ trì. Giữa một vùng đất cằn cỗi, ngôi chùa Việt nam nổi lên trên một ốc đảo toàn một màu xanh của cây lá như có phép màu. Nhưng phép lạ này không phải do lực lượng siêu nhiên nào đem lại mà do chính công sức của Thày, của các học trò của Thày và của những tấm lòng từ nhiều nơi trên thế giới góp lại. Trong khuôn viên chùa, ta có thể bắt gặp những cây trái của cả ba miền đất nước được Thày kỳ công đem sang những lần về thăm Tổ quốc . Việt nam Phật Quốc Tự còn có cả khóm tre ngà rất xanh tốt, do chính tay nguyên Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên trồng khi viếng thăm chùa.
Tôi đã được nghe kể lại quãng đời gian truân của Thày những năm 60 của thế kỷ trước, khi Thày mới đặt chân tới Ấn Độ. Thày vừa phải mưu sinh, chống trọi với bao khó khăn, thậm chí có lúc bị mưu hại, vừa tích cóp tiền dạy học và quyên góp để mua đất xây chùa. Trên diện tích 50.000 m2 của Việt Nam Phật Quốc tự tại Bodh Gaya, ngút ngàn màu xanh của hoa lá, đủ các chủng loại, mọc dày đặc và điều kỳ lạ là gốc cây nào cũng có bàn tay chăm sóc của con người. Nghe nói trước đây Thày còn dành một khoảnh đất để cấy lúa nước và trồng rau muống. Nhiều vị khách đến thăm chùa đã lội ruộng hái rau với Thày , được Thày chiêu đãi món nộm rau muống luộc, trộn lạc rang , vắt chanh , điểm thêm mấy cọng rau thơm hái trong vườn nhà. Dù sống xa quê hương đã lâu Thầy vẫn giữ được những nét riêng của tính cách thuần Việt. Tôi đã có vinh hạnh được Thày đánh thức từ rất sớm, uống trà trong không khí tinh khiết của buổi sớm mai, ngắm mặt trời lên trong làn sương huyền ảo của vùng Nam Á.
Nhớ lần đầu tiên tới thăm Việt Nam Phật Quốc tự , tôi thấy một miếng đất chừng 300m2 lấn sâu vào khuôn viên chùa nhưng lại do một người dân địa phương làm chủ sở hữu. Tôi đem nỗi băn khoăn này bày tỏ và được biết Thày đang lo dạy học kiếm tiền và quyên góp để mua lại miếng đất ấy. Sau rồi ,Thày cũng lo đủ tiền mua miếng đất và xây tường bao cả khu chùa nhưng phàn nàn với tôi là bị chủ đất ép giá.
Không cần phải tinh ý lắm khách viếng thăm cũng nhận thấy hình bóng Tổ quốc Việt nam trong khuôn viên của Việt nam Phật Quốc Tự. Ở đâu cũng thấy hình bản đồ Việt nam. Cây cầu bắc qua hồ nước trong chùa Việt nam tại Lâm tỳ ni mang hình dáng Việt nam và thậm chí chấn song cửa sổ Thày cũng cho uốn cong hình chữ S.
Tôi tự cho mình là người gần gũi với Thày Huyền Diệu và cũng có rất nhiều cơ hội đàm đạo với Thày nhưng chưa bao giờ được nghe ông nói về cá nhân mình.Tôi chỉ được biết Thày quê gốc Bến tre, đã tham gia phong trào học sinh, sinh viên chống Mỹ rồi lưu lac sang Pháp, may mắn tìm được cơ hội học tập để trở thành Tiến sỹ quan hệ quốc tế và Tiến sỹ Phật học. Tự tôi quan sát, thấy việc xây dựng hai ngôi chùa lớn kéo dài cả chục năm trời Thày kiêm luôn việc xin giấy phép xây dựng lẫn thiết kế, mua vật liệu , giám sát thi công . Thầy vừa là chủ đầu tư , vừa là chủ thầu, vừa là thủ kho, vừa là thủ quỹ…Thi thoảng ,Thày lại về Việt nam lo tuyển thêm hoặc thay các tốp thợ. Chuông và tượng Phật cũng được Thày đặt làm và đem sang từ Việt nam .Tôi và anh em Đại sứ quán ta tại Ấn Độ đã có lần giúp Thày xin miễn thuế cho loại hàng hóa đặc biệt này.
Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết sức lực từ đâu và do nguồn năng lượng nào mà Thày có thể hoàn thành chừng ấy khối lượng công việc. Ây là chưa kể còn rất nhiều công viêc từ thiện trong đó có việc xây cầu Việt nam nổi tiếng nơi Phật đản sinh …Một lần đến thăm Thày, thấy tôi cứ băn khoăn mãi việc nhà chùa phải đi xa 20 km để mua rau thết đãi anh em chúng tôi, Thày bèn kéo tôi ra vườn chùa bảo : “ Đây là vườn rau của tôi, rau má đấy, ăn hoài không hết”. Có lần Thầy ghé thăm Đại sứ quán ta , thấy đã đến bữa, tôi ngỏ ý mời Thày dùng cơm chay nhưng Thày vỗ vào túi vải nâu đeo sau lưng bảo : “ Cơm trưa của tôi đây rồi. Tôi đã dậy chuẩn bị từ 4 giờ sáng”. Như thế tức là Thày đang vội lắm. Tôi biết phần cơm trưa của Thày có 2 món là cơm gạo lức và rau luộc. Thày thường xuyên phải qua lại các Bang của đất nước Ấn Độ rộng lớn, nhưng nếu đi xe lửa, Thày chỉ mua vé hạng rẻ nhất, có nghĩa là phải đứng chôn chân trong khối người chật như nêm. Nhất là nếu vào mùa hè thì thật cơ cực.
Mỗi ngôi chùa Việt nam , ngoài thánh điện còn có hơn 100 phòng nghỉ dành cho khách thập phương, có cả 2 phòng rộng Thầy được các học trò xây tặng . Nhưng chưa một ngày nào Thày sử dụng 2 phòng đó mà chỉ nhường cho khách. Những người đến thăm chùa Việt nam tại Lâm Tỳ Ny đều ghé thăm căn nhà tre nhỏ, lợp lá, tường đất , không một chút tiện nghi , dựng trên một góc nhỏ, cạnh hồ nước trong khuôn viên chùa , được Thầy gọi đùa là “ tòa lâu đài ” và dùng làm nơi ở . Lắm lúc tôi thật ái ngại cho Thầy vì chính tôi cũng đã từng nếm trải cái nóng nung người và cái lạnh thấu xương ở xứ này. Ăn như vậy, ở như vậy, đi lại như vậy, công việc như thế nhưng da dẻ Thày lúc nào cũng hồng hào , sắc mặt tươi tỉnh, rất nhanh nhẹn và sức làm việc thì thật dẻo dai. Tôi đã chứng kiến một lần Thày ốm và tự điều trị bằng nước trà nóng, pha gừng và mật ong.Thày bảo sẽ truyền cho tôi bí quyết giữ gìn sức khỏe.
Thầy ít khi nói về những điều thần bí nhưng có lần kể nhờ sự gia hộ của Chư Phật , Chư Bồ Tát và hồn thiêng đất nước mà khoan trúng một mạch nước ngầm giữa vùng đất Lâm Tỳ Ni khô cằn . Mạch nước này đến nay vẫn còn , không cần bơm mà tự tuôn chảy từ trong lòng đất, suốt ngày đêm và rất tinh khiết. Thày bảo đã đem thử và chất lượng nước tương đương với nước khoáng Avian của Pháp. Tôi cũng đã được nếm thứ nước ấy.
Tôi là một cán bộ ngoại giao, phần đạo, phần đời có nhiều khác biệt nên thật khó lý giải mối thâm giao với Thày. Lần nào gặp nhau, tôi và Thày cũng có rất nhiều chuyện để nói. Thày viết sách cũng gửi tôi đọc nhờ góp ý. Những lúc thảnh thơi hoặc khi có điều gì phiền muộn tôi thường viết thư hoặc gọi điện cho Thày. Nghe giọng nói âm vang, lạc quan và tràn đày sức sống của Thày tôi cảm thấy được tiếp thêm một nguồn năng lượng vô hình. Những người đã từng gặp Thày hoặc đang ước ao được gặp Thày đều cảm nhận ở Thày tình yêu thương vô bờ đối với con người và quê hương đất nước. Trên thực tế , Thày đã không bao giờ chần chừ trước bất kỳ cơ hội nào làm lợi cho chúng sinh , cũng là để tôn vinh và “ thành kính tri ân đất nước Việt nam nơi tôi sinh ra ” như lời Thày nói.
Nguyễn Việt Hưng
Tổng lãnh sự Việt nam Tại Mumbai (Ấn Độ)
Cập nhật 07-12-2007

